Sau khi đuổi giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi lần thứ ba vào năm 1287, vua Trần Nhân Tông tiếp tục chính sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn, hằng năm vẫn triều cống nhà Nguyên nhưng kiên quyết không để mất một tấc đất vào tay ngoại xâm.
Tháng tư năm 1293, Trần Anh Tông lên ngôi lấy hiệu là Hưng Long. Lúc đầu Anh Tông còn ham mê rượu chè, thường ngủ tới trưa mới thức giấc, sao nhãng việc triều chánh. Thượng Hoàng Nhân Tông nghe được nổi trận lôi đình nói “Trẫm còn có người khác nối ngôi chứ không phải mình ngươi.” Từ đó Vua sửa đổi, thậm chí còn ghét những người nghiện rượu.
Vua là người biết cải cách. Từ thời Anh Tông trở đi, nước ta bỏ tục xâm mình, giản lược quan chức, thay đổi quan phục, hoàng triều có nề nếp kỷ cương hơn. Vua cũng chú trọng đến việc chiêu hiền đãi sĩ. Đến năm 1304, nhà Vua mở khoa thi Thái Học Sinh, tuyển được 48 người, trong đó có Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi làm nở mặt cho triều đình sau này.
Võ thì có Trần Nhật Duật, Trần Quốc Chẩn, Phạm Ngũ Lão; văn thì có Trương Hán Siêu, Trần thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi. Trên dưới một lòng. Vua dân đoàn kết lấy kinh nghiệm từ ba lần chống lại quân Mông Cổ. Cái khí phách Hội Nghị Diên Hồng còn phảng phất đâu đây. Nước Đại Việt thanh bình trở lại. Nơi nơi nức tiếng ca ngợi công đức triều đình. Mông cổ tuy lấy được Trung Hoa nhưng chỉ sau vài năm, lại phải đương đầu với Minh Giáo nổi lên chống lại Nguyên triều. Loạn trong loạn ngoài, Bắc Triều tự lo thân còn chưa được thì lấy gì để xua binh phạt Nam. Nạn xâm lấn từ phương Bắc như vậy là tạm yên. Phía Nam thì Triều đình dự định gả Huyền Trân xinh đẹp cho Chế Mân. Tên Chế Mân này vậy mà may mắn, chỉ mất có hai châu Ô, Rí mà được làm phò mã Đại Việt ta.
Biên cương vững vàng. Triều chính ổn định. Nhân một buổi mai tươi mát, lòng thanh thản, vua bỏ quốc sự ra một bên, bàn với quan nội vụ, muốn đi dạo kinh thành Thăng Long cho biết dân tình. Vua tôi cải trang thường dân dạo đường phố. Không khí bên ngoài khác hẳn trong cung, đâu đâu cũng tiếng cười nói nhộn nhịp. Đi một hồi, vua tôi thấy một đám đông trước mặt, vây quanh một thợ săn tay cầm một cây cung. Cung toàn một mầu đen, lõm ở giữa, cong hai đầu. Toàn thân bóng loáng như bôi mỡ. Hình dạng như chiến cung Mông cổ, nhưng có vẻ lớn hơn. Chỗ tay cầm ở giữa to bằng cổ tay. Người thợ săn giọng không lớn không nhỏ:
–Đây là thần cung Bá Nhan[1]. Đổi năm lạng bạc chỉ để chôn cha. Mong chư vị thương tình.
Nhà vua là người trọng tài và cảm động trước tấm lòng hiếu thảo mới nói:
–Này tráng sĩ, ta thấy ngươi là người biết hiếu nghĩa, cầm lấy 10 lạng bạc này về chôn cha. Sau tang sự mang cây cung này đến hoàng triều gặp ta.
–Tại hạ Hồ Thiên người miền núi. Tổ tiên làm nghề thợ săn đã mấy đời. Chắc chắn sẽ đến bái phỏng tiên sinh.
Quả nhiên ba ngày sau Hồ Thiên trong tang phục khoác cung lên vai đến trước cửa triều. Quan nội thị đã biết trước ra đón. Hồ Thiên theo sau. Trước mặt có hai người đang ngồi nói chuyện. Hồ Thiên nhận ra người đã gặp hôm trước, vội quỳ xuống thi lễ:
–Thần Hồ Thiên, kẻ sơn dã, bái kiến bệ hạ.
–Miễn lễ. Đây là Phạm Ngũ Lão tướng quân có vài lời muốn hỏi ngươi.
Nhà Vua khoát tay, ý bảo đứng lên. Người đàn ông bên cạnh trạc tứ tuần, quay mặt nhìn thẳng vào Hồ Thiên. Khuôn mặt quắc thước, hai bên thái dương đã có vài sợi bạc, không giận mà có uy, lần đầu tiên cất lời:
–Này tráng sĩ, có thể nói thêm về cây cung này được không? Cung này hình như của người Mông Cổ ta đã thấy nhiều lần nơi chiến địa.
Hồ Thiên tháo cây cung trên vai xuống, hai tay dâng cho Phạm Ngũ Lão.
–Tâu bệ hạ, cha thần trước đây vốn là thợ săn, đi theo Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn. Trong trận Vạn Kiếp, Hưng Vũ Vương giết tướng giặc là Lý Quán. Thoát Hoan trong đám tàn quân sợ quá chui vào ống đồng mới thoát chết. Thoát Hoan làm rơi cây cung này. Hưng Vũ Vương thấy cha thần là người biết nghề cung tiễn mới ban lại cho thần vật này. Đây vốn là vật của Thừa Tướng Bá Nhan. Người được Đại Hãn Mông Ca ban cho tước hiệu Thần Tiễn Mông Cổ. Nghe đồn rằng khi công thành Tương Dương, Bá Nhan cách xa thành cả trăm bước đã bắn chết biết bao tướng sĩ với cây cung này. Thoát Hoan ỷ mình là Trấn Nam Vương ép Bá Nhan nhường lại cây cung này để mang đánh Đại Việt.
Phạm Ngũ Lão văn võ song toàn, cũng là một danh tướng đời Trần. Phạm tướng ngắm nghía cây cung hồi lâu, đưa lên mũi hít sâu một hơi rồi mới lên tiếng:
–Thưa bệ hạ, thân cung làm bằng gỗ thủy tùng quý hiếm, có mùi hương nhẹ, vừa dẻo dai vừa bền bỉ, ghép chung với sừng trâu để tăng độ dàn hồi. Dây cung làm từ kim loại không rỉ sét. Khoảng cách gây thương tích xa hơn cung bình thường. Nếu nằm trong tay cung thủ tài ba thì có thể hơn 100 bước (170 m).
Vốn là một cung thủ từng tham chiến lâu năm với Thái Thượng Hoàng Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão linh cảm cây cung này đã có mặt trên biết bao nhiêu chiến địa. Trong đầu ông hiện ra bức tranh máu lửa: tiếng vó ngựa dập dồn, tiếng gào thét xung phong, tiếng thây người gục ngã, tiếng tên bay vun vút… Tay ông vô tình chạm vào dây cung tạo ra âm thanh tình tang như tiếng hồ cầm. Cả ba đều cười thích thú.
Họ Phạm lấy ra một mũi tên lắp vào cung, hướng vào một cây gạo ở xa buông dây. Tên bay kèm theo tiếng nổ như sấm rền tạo thêm uy lực. Cây gạo gãy đôi ở giữa.
Nhà Trần vốn lấy võ dựng nghiệp. Ba đời vua trước đều thân chinh chống Mông Nguyên. Trần Anh Tông cũng đã từng được huấn luyện võ nghệ nhiều năm. Nhà vua ra dấu cho Phạm Ngũ Lão mang cây cung lại, cầm cung trên tay, ngắm nghía hồi lâu tỏ vẻ thán phục:
–Hóa ra đằng sau thần cung còn có một lịch sử khá lý thú. Hôm nay trẫm được nghe câu chuyện hay. Cả Hồ tráng sĩ và Phạm Tướng quân đối đáp cũng bùi tai. Từ nay thần cung này sẽ được gọi là Lôi Cung. Ta phong Hồ Thiên là Thần Tiễn Đại Việt.
***
Mùa thu năm ấy, sau khi tiếp nhận Lôi Cung, Hồ Thiên được phong chức Đội trưởng thân quân dưới quyền Phạm Ngũ Lão. Trước khi đoàn quân lên đường xuôi nam, vua Trần Anh Tông gặp riêng hai người trong thư phòng. Nhà vua nhìn bản đồ trải rộng trên án thư rồi nói:
–Phía Bắc tạm yên, nhưng phương Nam chưa ổn. Chiêm Thành thường cho quân vượt biên quấy phá châu Ô, châu Rí. Phía Tây, người Ai Lao cũng nhiều lần cướp bóc dân chúng dọc biên giới. Trẫm giao việc này cho Phạm Tướng quân.
Phạm Ngũ Lão quỳ xuống:
–Thần xin lĩnh chỉ.
Nhà vua quay sang Hồ Thiên:
–Phương Nam thú nhiều, rừng rậm, chưa khai phá. Trẫm biết ngươi giỏi bắn cung lại quen cuộc sống núi rừng. Lần này hãy tận tâm phò tá tướng quân.
Hồ Thiên cúi đầu:
– Thần nguyện lấy thân báo quốc.
***
Đoàn quân vượt đèo Hải Vân. Đất phương Nam khác hẳn Thăng Long. Núi cao trùng điệp, rừng già âm u, khí hậu nóng ẩm. Quân sĩ vừa hành quân vừa phải chống chọi với muỗi mòng, thú dữ. Đi cả tháng trời mới tới hai châu Ô, Rí.
Thấm thoát vậy mà đã qua mười năm theo phò Phạm Ngũ Lão. Trải trăm trận giữ an biên thùy, lúc thì vượt tây đánh Ai Lao giành đất, lúc thì xuôi nam giữ gìn biên giới. Bây giờ Phạm Ngũ Lão đã được phong thăng tới chức Điện Súy Thượng Tướng Quân. Còn Hồ Thiên càng ngày càng tinh tiến trong thuật cung tiễn, chẳng khác gì Triết Biệt, Bá Nhan thuở trước. Thật đúng với câu “bách bộ xuyên dương”…
***
Một đêm, toán thám mã báo về:
– Tướng quân! Có hơn ba trăm quân Chiêm vừa vượt biên giới cướp phá một làng ven sông.
Phạm Ngũ Lão lập tức dẫn năm trăm quân truy tìm. Quân Chiêm nổi tiếng thiện chiến, chuyên dùng voi và sử dụng lao ngắn. Chúng rút vào một khu rừng rậm, định lợi dụng địa hình để mai phục. Đã nhiều lần Đại Việt hao binh tổn tướng với chiến thuật này.
Phạm Ngũ Lão suy nghĩ hồi lâu rồi gọi Hồ Thiên:
– Ngươi có cách nào phá được trận này không?
Hồ Thiên leo lên cây cao quan sát, một lúc sau trở xuống.
– Tướng quân, quân Chiêm giấu voi phía sau khu rừng tre. Nếu voi xông ra trước, quân ta sẽ rối loạn.
– Vậy phải làm sao?
Hồ Thiên trả lời:
–Địch chủ mà ta khách. Địch tối mà ta sáng. Tránh tấn công ban đêm. Chiến tượng có ưu thế ở đất bằng. Muốn địch lộ diện cần cho một toán khinh binh chừng 50 người thôi để dụ chúng ra. Khi voi vừa ra tới bìa rừng tất cả phản công mạnh. Chỉ cần nhanh chóng hạ con voi đầu đàn, chúng sẽ hoảng loạn.
Phạm Ngũ Lão gật đầu. Khi bình minh vừa ló dạng, quân Đại Việt giả vờ tấn công. Đúng như dự đoán, chiến tượng Chiêm Thành gầm vang lao ra khỏi khu rừng. Hồ Thiên đứng trên sườn đồi, kéo căng Lôi Cung. Tiếng dây cung rung lên như tiếng sấm rền kèm theo mũi tên lao vút. Tên bay xa hơn trăm bước, xuyên thẳng vào mắt con voi đầu đàn. Con vật đau đớn gào thét rồi quay đầu bỏ chạy. Đàn voi phía sau hoảng loạn giẫm đạp lên quân Chiêm. Phạm Ngũ Lão lập tức hạ lệnh tiến đánh.
Quân Đại Việt như nước vỡ bờ. Mỗi người đi trước đều cầm theo một bó đuốc lớn. Người đánh trống, kẻ thổi kèn, quân lính la hét vang trời. Đàn voi co vòi, thấy lửa càng hoảng sợ chạy toán loạn. Chỉ trong nửa canh giờ, 300 quân Chiêm bị đánh tan tác. Quân Đại Việt còn bắt sống được tướng Chế Thanh và rất nhiều tù binh.
Phạm Ngũ Lão hạ lệnh khao quân ăn mừng chiến thắng. Rượu uống chưa được một tuần, có người bẩm báo Chế Thanh phá ngục bắt theo con tin đòi mở cổng trại thả tù binh. Phạm Ngũ Lão nhìn từ xa. Con tin là phó tướng Trần Quân thuộc hoàng tộc, gươm đang kề cổ. Quân nam không dám tới gần. Mọi người đang chờ lệnh. Phạm tướng do dự: nếu thả Chế Thanh và quân Chiêm ra chúng sẽ tiếp tục quấy nhiễu dân lành; còn nếu hy sinh Trần Quân thì có lỗi với vua. Chế Thanh xảo quyệt, sợ cung thủ nhắm bắn từ xa nên để con tin chắn ngay trước mặt, nép sát mình vào Trần Quân.
Phạm tướng quay qua nhìn Hồ Thiên. Hồ Thiên gật đầu hiểu ý nói nhỏ:
–Tướng quân cầm chân Chế Thanh một chút. Hạ tướng có cách.
Bỗng có cơn gió từ hướng tây trổi lên.
Trong lúc mọi con mắt đổ dồn về phía tên tướng Chiêm, Hồ Thiên lẳng lặng rút tên lắp vào cung, hướng chênh chếch về phía bên phải mục tiêu. Ngón cái và ngón trỏ tay phải nắm đuôi tên xoắn nửa vòng và bẻ cong mũi tên. Dây cung căng. Hồ Thiên nín thở. Vẫn tiếng nổ sấm sét, mũi tên như có ma thuật bay vòng cánh cung, chỉ làm sước da Trần Quân nhưng đã cắm vào cổ tên tướng Chiêm. Chế Thanh hai tay ôm cổ, nhưng máu vẫn tuôn có vòi. Tất cả mọi người trố mắt nhìn. Riêng tên tướng Chiêm, có lẽ hắn không thể nào hiểu nổi tại sao mình chết. Quân lính hoan hô vang trời. Thế là Lôi Cung kể từ đây lại có thêm một huyền thoại.
Tin tức nhanh truyền đến tai vua Chiêm là Chế Chí. Chiêm thành xin đầu hàng và tiếp tục triều cống Đại Việt.
Đó là năm 1312.
Khi khải hoàn trở về Thăng Long, vua đích thân ra ngoài thành đón quân sĩ. Nhìn Hồ Thiên đứng bên cạnh Phạm Ngũ Lão, mặt rồng hớn hở:
– Ta không nhìn lầm người.
Còn Phạm Ngũ Lão thì vỗ vai chàng trai sơn cước:
–Từ nay thiên hạ sẽ biết đến Hồ Thiên: Thần Tiễn của Đại Việt.
Tiếng hô vạn tuế vang dậy khắp kinh thành, báo hiệu một thời kỳ thái bình mới của đất nước.
***
Năm 1320 cả Anh Tông và Phạm Ngũ Lão mất. Hồ Thiên, qua nhiều năm chinh chiến cũng mệt mỏi, xin vua Minh Tông được về quê cũ làm bạn với núi rừng. Lôi Cung cũng ẩn cư theo chủ của nó.
Tám mươi năm sau, triều Trần đã không còn huy hoàng như trước. Không ai còn nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng. Cung đình càng ngày càng xa hoa trụy lạc. Quyền thần nổi lên khắp nơi. Biên cương nhiều lần bị Chiêm Thành quấy phá. Vua Duệ Tông tử trận ở Đồ Bàn. Quốc khố cạn kiệt. Dân chúng lầm than. Tất cả như điềm báo trước một tai ương sắp đổ xuống nước Đại Việt.
Tể Tướng đương triều lúc này là Hồ Quý Ly[2]. Ông thông minh, quyết đoán, hiểu việc điều binh trị nước, nhưng trong lòng đã nuôi dã tâm muốn soán ngôi nhà Trần từ lâu. Nhờ là ngoại thích của hoàng tộc, Hồ Quý Ly từng bước một nắm giữ đại quyền. Họ Hồ bắt chước Trần Thủ Độ thao túng triều đình, giết hai vua Phế Đế và Thuận Tông, ám sát thân vương, hoàng tộc, và các quan không phục tùng. Có người hỏi đây có phải là nhân quả của việc “nhổ cỏ tận gốc” đời trước chăng?
Một đêm mùa đông, khi đã lên ngôi quyền lực cao nhất triều đình, Hồ Quý Ly trở về nhà từ đường. Trước bàn thờ tổ tiên, ông nhìn thấy Lôi Cung. Dù đã trải qua hơn tám mươi năm, thân cung vẫn đen bóng, sát khí vẫn bao trùm không gian như xưa.
Hồ Quý Ly cầm cây cung lên. Dây cung khẽ rung. Một âm thanh trầm đục vang lên như tiếng sấm vọng từ xa. Ông đứng lặng rất lâu. Trong đầu hiện lên biết bao câu chuyện đã nghe từ thuở nhỏ: Hồ Thiên theo Phạm Ngũ Lão đánh Chiêm Thành, dẹp Ai Lao, bảo vệ giang sơn nhà Trần, bắn chết Chiêm tướng Chế Thanh…
Ngày nay… Chính ông lại đang nắm vận mệnh của triều đình.
Tháng 2 năm 1400, Hồ Quý Ly phế vua Trần Thiếu Đế, lập ra nhà Hồ, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, dời kinh về Tây Đô. Nhà Trần tồn tại được 175 năm đến nay chấm dứt.
Đêm hôm ấy, Hồ Quý Ly một mình bước lên bờ thành. Bầu trời đầy mây đen. Ông mang theo Lôi Cung, nhìn về phương Bắc, nơi nhà Minh đang nuôi tham vọng. Chắc một ngày không xa, quân Minh sẽ tràn xuống phía Nam. Tâm tư ngổn ngang đầy âu lo. Hồ Quý Ly lắp một mũi tên. Ông kéo căng dây cung. Tiếng dây rung lên như sấm động giữa trời đêm. Mũi tên bay thẳng vào khoảng không vô tận rồi mất hút trong bóng tối. Không ai biết nó rơi ở đâu. Chỉ có tiếng vọng kéo dài giữa núi rừng Thanh Hóa.
Hồ Quý Ly buông tay, suy nghĩ: “Nhà Trần mất rồi. Đây là thần vật xây dựng tiền triều, không thể nào để nó trong Hồ tộc! Con cháu nhà Trần có thể dùng nó để phục thù.” Không nỡ hủy đi di vật tổ tiên truyền lại, cũng không muốn di hoạn về sau, ông đem Lôi Cung cất kín trong kho khố của triều đình. Từ đó không ai còn nhìn thấy thần cung nữa.
***
Sáu năm sau, quân Minh mượn danh “phục Trần” tràn xuống xâm lược nước Nam. Nhà Hồ thất bại. Hồ Quý Ly bị bắt giải sang phương Bắc. Trong cơn binh lửa, Tây Đô chỉ còn đống tro tàn. Lôi Cung cũng biệt tăm từ đó. Có kẻ nói nó bị chôn vùi dưới nền thành Tây Đô. Có người lại bảo một nghĩa sĩ họ Lê đã mang nó vào núi Chí Linh. Về sau có người kể rằng vào những đêm giông bão trên đất Thanh Hóa, đôi khi vẫn nghe tiếng dây cung ngân vang trong sấm sét.
Có lẽ Lôi Cung vẫn đang chờ một người xứng đáng để xuất hiện lần nữa.
Tạo Ân
________________________________
[1] Thừa Tướng Bá Nhan(1236-1295) là một nhà quân sự đại tài giúp Hốt Tất Liệt diệt nhà Tống và lập ra nhà Nguyên.
[2] Lúc này đúng ra là Lê Quý Ly mặc dầu tổ tiên là Hồ Hưng Dật. Người cháu đời thứ 12 là Hồ Liêm nhận Tuyên Úy Lê Huấn làm cha nuôi mới đổi sang họ Lê. Sau khi lên ngôi lại đổi sang họ Hồ.
