Vĩnh Biệt Nhà Thơ Lãm Thúy

Người ơi người đã đi rồi

Nắp quan khép lại cung trời đổ mưa

Ầu ơ lục bát đong đưa

Bài thơ dang dở hận chưa dứt tình

Thì ra cũng giống nòi tình

Khóc người đồng điệu tử sinh chia lìa.

                                               

Tạo Ân

vinh biet lam thuy

TÌNH MẸ TRONG TẬP THƠ “TỪ MẪU” CỦA LÃM THÚY

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Tập thơ “Từ Mẫu” của Lãm Thúy xuất bản năm 2014. Tập thơ gồm 3 phần. Phần 1 là “Từ Mẫu” gồm 81 bài thơ viết về Mẹ. Phần 2 là “Tử Biệt Trần Thúy Trúc” gồm 102 bài thơ viết cho cô con gái đã qua đời. Phần 3 “Thơ Cho Thúy Quỳnh” gồm 10 bài thơ viết cho cô con gái thứ hai đang sống cạnh mình. Dàn trải bàng bạc trong hơn 400 trang giấy với gần 200 bài thơ Lãm Thúy đã tỏ lộ những tư tưởng thấm nhuần Phật giáo rất sâu đậm.

Trong đạo Phật, vấn đề hiếu đạo luôn luôn được đề cao. Kinh Phật đã ghi rõ: “Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng sanh lang thang trong nẻo luân hồi, bỏ thân này nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần, sữa mẹ mà chúng ta đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển”. Khi nghe lời kinh Phật văng vẳng bên tai: “Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu. Cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu” Lãm Thúy tự cảm thấy tội lỗi vì không giữ tròn được chữ hiếu khi phải rời xa Cha Mẹ mình để tha phương lập nghiệp:

“Nghe kinh Phật dạy sao buồn quá Con bỏ quê đi: bất hiếu rồi.”

Để Mẹ chiều quê ngồi tựa cửa Để Cha mờ lệ ngóng phương trời.” (Nghe Kinh Phật)

Bồ tát là một vị đang sống trên trái đất với đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả, vị này xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để phát nguyện độ thoát cho tất cả chúng sinh cùng thành Phật đạo như mình và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Nhà thơ thốt lời tri ân Mẹ, tình Mẹ thật cao quý, hình ảnh Mẹ chẳng khác chi một vị Bồ tátđáng được tôn sùng:

“Nặng nhọc, đắng cay mình gánh vác

Dành phần ngon ngọt để chồng con

Mẹ ơi! Tim Mẹ tim Bồ tát

Nỗi vị tha nào ai sánh hơn?”

(Từ Mẫu)

Tuy vẫn biết Phật dạy cuộc đời là huyễn mộng, là giả tạm, chẳng thường còn, mọi sự vật đều biến đổi theo quy luật vô thường như giọt sương mai long lanh đầu cành sẽ sớm tan trong ánh nắng nhưng sao nhà thơ vẫn không nén nổi nỗi buồn đau trong lòng mình khi nghe tin Mẹ qua đời ở chốn xa xăm quê nhà, dù những dòng thơ được viết giữa mùa Xuân rộn nở:

“Hình như đời chẳng còn vui nữa Từ khi Mẹ ngủ giữa vô thường”

(Thơ Xuân Trong Lệ)

Cho dù biết rằng tri kiến được cõi “Chân như” tức là cõi “giác ngộ” tột đỉnh (cái mầm giác ngộ sẵn có trong mỗi chúng sinh) và đã thấu hiểu cảnh giới vĩnh hằng không biến đổi của các bậc Thánh nhưng khi thực sự mất Mẹ nhà thơ vẫn cảm thấy cuộc đời mình thật trống vắng hoang mang:

“Mẹ đi lạc cõi vô thường

Lũ con ngơ ngác giữa đường trần ai”

(Nói Sao Cho Cạn Hết Tình)

“Mẹ đi về cõi Chân Như

Bỏ con đứng lại hoang vu lạc loài”

(Sợ Ngày Mẹ Bỏ Con Đi)

Từ bi là đức hạnh chính của đạo Phật và cũng là cơ sở tâm lí của một vị Bồ Tát. Đức tính này được biểu hiện qua lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi luân hồi. Tấm lòng từ bi thường tuyệt đối vô phân biệt và vô điều kiện, thương yêu chúng sinh hết mực, không khác gì người mẹ thương yêu con và thông cảm sâu sắc với nỗi khổ của chúng sinh. Với ý nghĩ đó nhà thơ thầm mong ước:

“Mẹ về tới cõi Chân Như

Lòng thương có dứt? Niệm từ bi theo”

(Nhớ 3)

Kinh sách thường ghi: “Mẹ hiền còn sống là mặt trời giữa trưa chói sáng. Mẹ hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn. Mẹ hiền còn sống là mặt trăng sáng tỏ. Mẹ hiền khuất rồi là đêm tối âm u.” Ngay trong mấy tuần lễ đầu mất Mẹ lòng tưởng nhớ Mẹ của nhà thơ đầy thương đau:

“Thất tuần, Mẹ sẽ về đâu?

Con nghe tiếng gió rầu rầu nửa khuya

Lòng đau thắt nỗi chia lìa

Gió xào xạc, tưởng Mẹ về ghé thăm”

(Khi Mẹ 49 Ngày)

Hai năm trời trôi qua, nhân mùa Lễ Vu Lan, cài bông hoa hồng trắng lên ngực áo, giữa cảnh chùa trang nghiêm, lòng thương nhớ về Mẹ của nhà thơ vẫn dâng trào tưởng như không bao giờ dứt:

“Bâng khuâng đứng lại hiên chùa

Mẹ đi thoắt đã hai mùa Vu Lan

(Chiều Đứng Lại Hiên Chùa)

*

Chúng sinh từ vô thủy tới nay xoay chuyển lăn lóc trong vòng sinh tử ở sáu đường (lục đạo) như bánh xe lăn đi đến vô cùng. Hết ở kiếp này, rồi lại sanh vào kiếp khác. Và nếu muốn diệt sự khổ của luân hồi thì trước phải dứt cái nhân “tham sân si”. Vào dịp mẹ của một người bạn qua đời Lãm Thúy cũng thốt ra những lời cầu chúc cho cái khổ luân hồi được chấm dứt, cầu mong đức Phật A Di Đà cứu trợ:

“Dưới chân tượng Phật, Mẹ về nằm

Ở đó vườn xanh biếc tháng năm

Cầu người siêu thoát, cầu an lạc

Dẫu chẳng đành nhưng hãy gắng nguôi

Ngươi yên lành ngủ bên chân Phật

Lẽ nào không thoát cảnh luân hồi?

Chung nhau góp lại câu cầu nguyện A Di.

Tiếp dẫn những linh hồn! ”

(Mẹ Nằm Dưới Chân Phật)

Nhân ngày Mẹ một người bạn khác qua đời nhà thơ cũng thầm muốn sớt chia “nửa gánh ưu phiền” với “nỗi niềm đau thương” trên vai bạn mình. Nhà thơ thầm nguyện:

“Cầu xin Cực Lạc Mẹ đi

Luân hồi chấm dứt. Nẻo về thênh thang… ”

(Trong Ngày Tang Mẹ)

*

Khi người con gái thân yêu sắp sửa lìa xa cõi trần gian đầy hệ lụy, Lãm Thúy cũng nhân dịp này nhắc tới cái nghiệp quả, cái nghiệp đã định sẵn một cách chắc chắn chỗ thọ quả được sướng hoặc chịu khổ, được lành hay chịu dữ trong cảnh luân hồi của chúng sinh:

“Chẳng biết tiền căn hay nghiệp chướng

Xui đời con lắm nỗi tai ương.”

 (Nghe Gió)

“Con yếu đuối, tội tình

Định mệnh sao oan nghiệt

Đẩy con vào điêu linh

Ngày mỗi gần nỗi chết.”

(Trên Bờ Phân Ly)

Nhìn di ảnh của con, nhà thơ một lần nữa cũng lại nhắc tới cái vô thường của cuộc đời con người trong cõi nhân gian khi phải chia lìa con gái sau 30 năm chung sống:

 

“Giờ con sương khói vật vờ

Đời người như gió thoảng qua: vô thường”

(Di Ảnh)

“Mình ta đứng lại ngâm ngùi

Nghe vô thường một kiếp người mong manh!”

(Tương Ngộ)

“Đã hay đời vốn vô thường

Cũng đâu ngờ đến đoạn trường này đây”

(Tệ Hơn Là Chết)

“Người đi. Hoa cũng vô thường

Thân khô. Đứng giữa trời tang thương. Buồn!”

(Đào Hết Ra Hoa)

Với người con gái đã vắn số của mình nhà thơ cũng cầu mong cho con về nơi giác ngộ, về chốn Chân như và vãng sinh Cực lạc, về nơi Phật A Di Đà đang giáo hóa, nơi hoàn toàn chỉ có vui không có khổ:

“Thì thôi, sinh tử, phù du

Mong con tìm chốn Chân Như. Hồn về.”

(Cầu Nguyện)

“Thắp nén nhang khuya mẹ nguyện cầu :

Con được Vãng sinh về Cực lạc

Thoát khỏi trầm luân. Hết đớn đau.”

(Từ Thuở Con Đi)

Niết Bàn là trạng thái tịch tịnh, tịch diệt, mục đích giải thoát cuối cùng của đạo Phật, một trạng thái an tịnh an lạc tuyệt đối không còn bị sinh tử chi phối, không còn bị các phiền não ám ảnh. Kể từ khi người Cha nhấn nút khởi động lò hỏa táng cho đến lúc ôm bình tro cốt của con mang vào chùa thì bà Mẹ luôn thốt lời nguyện cầu cho con:

“Cõi vui chắp cánh. Niết Bàn dừng chân.”

(Cha Nhấn Nút Hỏa Táng)

“Thắp nén nhang khuya, mẹ nguyện cầu:

Con được vãng sinh về Cực lạc

Thoát khỏi trầm luân. Hết đớn đau.”

(Từ Thuở Con Đi)

Nhà thơ Lãm Thúy một lòng tin tưởng vào Phật pháp. Tình kính yêu với người Mẹ, tình yêu thương với con gái luôn luôn được phô bày với tấm lòng của một Phật tử thuần thành:

“Phật. Từ bi lắm, Phật ơi

Nam mô cứu nạn. Đây lời thiết tha!”

(Con Sông Từ Mẫu Đã Ròng)

Thi phẩm “Từ Mẫu” của Lãm Thúy đã được người đọc rất trân quý đúng như ý nguyện của nhà thơ ghi trong phần “Lời Ngỏ” đầu tập sách: “Xin hãy đón nhận, bởi đó là tình từ một trái tim gửi đến những trái tim, hãy cảm thông, bởi đó là hệ lụy của kiếp người, có sinh có diệt, có hợp, có tan… Mong sao những vần thơ này đổ vào tim bạn những tình nồng ấm, để những người con biết thương Cha Mẹ mình hơn…”

Vườn hoa văn học nghệ thuật hải ngoại lại được dịp mở rộng cửa để đón thêm một bông hoa khởi sắc, một thi phẩm ghi dấu ấn mãi sâu đậm trong lòng người đọc!

TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO

(Virginia 12-2014)

lt3

PHONG ĐIỀN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

 

Muốn sang thì bắc cầu Kiều

Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy

(Ca dao )

 

“ Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng

Đến đây trời khiến đem lòng thương em “ (*)

Thương sao cái xứ Phong Điền

Lòng quê chân chất, dạ hiền, tình sâu

Một thời gắn bó bên nhau

Người đi như mối tình đầu, khó quên

Ngôi trường cũ dẫu thay tên

Sắt son vẫn giữ lời nguyền nước non

Ai đi gối mỏi chân chồn

Phong sương bạc tóc vẫn còn tình xưa

Về đây nắng sớm mưa trưa

Sáng vui Chợ Nổi chiều thưa thớt thuyền

Về đây thăm lại Phong Điền

Vườn dâu trĩu trái ,Lòng riêng bồi hồi

Sông dài cá biệt tăm hơi

Lệ ai thấm đẫm tiếng cười đoàn viên

“Cầu Kiều” ai bắc mà nên

Yêu thầy, mến bạn, tình bền , nghĩa sâu

Thời gian nước chảy qua cầu

Trà Niền Vàm Xáng đậm màu nhớ thương

Gọi Phan Văn Trị tên trường

Gợi bao hồi ức : nỗi buồn, niềm vui

Còn nghe xao xuyến, bùi ngùi

Bảng đen phấn trắng một thời thiết tha

Thiên nhai Hải giác dù xa

Lòng như Nhật Nguyệt, chan hòa, thuỷ chung

Ai về nhắn hỏi con sông

Ngã ba nước rẽ đôi dòng, buồn chăng ?

Ai đi xin nhớ cho rằng

Sông xưa vẫn đợi , Vầng trăng vẫn chờ

Có thương thì sắm con đò

“ Để em qua lại mua cò gởi thơ “(**)

 

LÃM THUÝ

 

(*),(**) Ca dao

Thưa Tang Quyến, Thưa Quý Vị,

 

Chúng tôi, nhất hùng, thay mặt cho Hội Văn Nghệ Sĩ VNCH Hải Ngoại, xin kính viếng nhà thơ Lãm Thúy và thành thật chia buồn cùng gia đình. Tôi xin phép được chia sẻ vài kỷ niệm với nhà thơ Lãm Thúy lúc còn sinh tiền.

Thưa, với tôi, là văn hữu của nhà thơ Lãm Thúy, vừa là vinh dự vừa là cái Duyên. Câu chuyện thế này, tôi thường làm thơ rồi gửi lên diễn đàn điện tử. Ngày ngày vẫn có khen chê rồi một hôm tôi nhận được một comment với những lời khen có cánh, dưới comment ký tên Lãm Thúy, cái tên nghe vừa lạ vừa có chất thơ nên dễ nhớ. Một hôm, tình cờ ngồi chung bàn tiệc với một nhà văn, tôi đem chuyện ấy ra kể, ông ấy nói: “trời ơi, bà Lãm Thúy là Nhà Thơ nổi tiếng, là chủ tịch Văn Bút ở vùng này, ông không biết à?”. Về nhà, tôi nghĩ, mình viết văn làm thơ thì cũng cần gia nhập cái hội đoàn văn thơ nào chứ, thế là tôi viết Email hỏi: “Chị là CT Văn Bút vùng Hoa Thịnh Đốn phải không, nếu đúng vậy, tôi xin gia nhập cái hội này”. Mấy ngày sau tôi mới nhận được hồi âm, chị nói:”tôi đọc Thơ của anh đã lâu, còn gia nhập hội thì cần chờ thêm vài điều kiện và thời gian”, nói thế mà cả sáu tháng sau, chị mới mời tôi tham dự một buổi họp “gọi là Gia Nhập Văn Bút”. Cuối buổi, chị nói với tôi một câu mà tôi nhớ mãi: “Nhất Hùng cứ như con chim Phượng Hoàng, gia nhập Văn Bút thì con Chim này sẽ như được chắp dài thêm đôi cánh, nó sẽ bay xa bay cao lắm”, rồi kể từ sau ngày ấy, chị Lãm Thúy và tôi gắn bó như hai chị em, ngày nào cũng đàm luận Văn Thơ.

Khoảng tháng 10 năm 2019 có xảy ra một việc liên quan đến chị Lãm Thúy, chuyện cũng đáng xếp vào Giai Thoại Làng Văn. Số là thế này:

Tờ Việt Báo Online bỗng chạy tựa lớn:

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ LÃM THÚY

Lập tức, nhiều Văn Thi Hữu gọi phone, Email cho tôi hỏi tin. Tôi gọi phone cho chị nhiều lần nhưng điện thoại không reng nghĩa là không hoạt động. Vừa buồn vì THƯƠNG TIẾC vừa nghĩ đến trách nhiệm viết điếu văn vì chị là ĐỆ NHẤT PHÓ CHỦ TỊCH HỘI VĂN NGHỆ SĨ VN HẢI NGOẠI, tôi liền gõ máy Bài Thơ KHÓC LÃM THÚY.

Bài thơ này, tôi chưa kịp đọc điếu cho nhà thơ Lãm Thúy thì lại có tin: “Lãm Thúy chưa chết…Lãm Thúy chưa chết…Lãm Thúy còn sống… Thì ra tin đó chỉ là sự nhầm lẫn của Tờ Việt Báo Online mà thôi …họ đã rút bản tin ấy xuống…họ có Đính Chính…có Xin Lỗi…”. Còn gọi phone mà Lãm Thúy không bốc chỉ là tình cờ phone hỏng bất ngờ….. 

Sau ngày ấy, chị có làm một bài thơ gọi là TẠ TẾ gửi nhất hùng. Thỉnh thoảng hai chị em vẫn cười và nhắc về giai thoại này. 

Còn hôm nay – THÚY ĐÃ ĐI RỒI – THÚY ĐI THẬT RỒI. Tôi thử viết lại một bài Điếu Văn khác nhưng ý tứ cũng chẳng khác gì bài cũ. Hôm nay trước linh cửu nhà thơ Lãm Thúy, chúng tôi xin đọc lại trọn bài Điếu Văn mà tôi từng viết cho chị.

 

“KHÓC LÃM THÚY”

“Tin nghe như sét đánh ngang

Lãm Thúy đang sống chuyển sang từ trần”

Tài hoa là phải bạc phần???

Tô đời rót mật có ngần ấy thôi

Từ nay “Bắc Đẩu về ngôi”

Chợt ta bỗng thấy lẻ loi giữa đời

Khi buồn lúc chán cuộc chơi

Lấy ai xả giận cho vơi nỗi sầu

Còn ai ý hợp tâm đầu

Mạn đàm mấy chuyện trăng sao mây ngàn

Thi văn không bạn luận bàn

Không người nhẫn nhịn cái “gàn” của ta

Nhớ sao cái tánh hiền hòa

Mặc cho “thi bá” ba hoa chích chòe

Chỉ cười đôn hậu chẳng hề

Chau mày hờ hững phải nghe chuyện xàm

Đậm đà cái chất miền Nam

Ôn nhu hòa nhã như cam phận mình

Thật ra tác giả “Thâm Tình”

Biết thì biết hết, làm thinh đấy mà

Biết người mà cũng biết ta

Trọng tình trọng nghĩa hài hòa tâm giao

Từ nay, thôi vĩnh biệt chào

Về cùng “Từ Mẫu” tên vào thiên thu

Cỡi mây lướt gió vi vu

Tâm bình, trí thản ngao du suối đồi

Ôi thôi, “Thúy Đã Đi Rồi”

Văn đàn nay sẽ buồn ơi là buồn

Trời thu bất chợt mưa tuôn

Như muôn sợi nhớ khơi nguồn tiếc thương

Tử sinh dẫu biết vô thường

Nhưng đời ngắn quá, như sương đầu cành

Như bọt sóng nổi đầu gành

Mới cười nói đấy, giờ đành chia tay

“Tài mệnh tương đố” buồn thay

Đa tài yểu mệnh xưa nay lẽ đời

Lệ sầu tiễn bạn lên trời

Mai mình về đất, ai người khóc ta…

Trời Thu ảm đạm vàng pha

Trên cành, lá vẫn thiết tha chưa rời

Mượn “lục bát”, viết đôi lời

Gởi người tri kỷ về nơi vĩnh hằng 

(nhất hùng)

 

Mai đây ở một nơi xa lắm, chị sẽ gặp lại “TỪ MẪU”, người mẹ mà chị yêu quý nhất trên đời, gặp lại người con gái đã rời khỏi vòng tay của chị rất sớm để cả một đời chị vẫn “CÒN NGUYÊN NỖI NGẬM NGÙI”, gặp lại những người bạn “THÂM TÌNH” nơi cõi vĩnh hằng, và Chị cứ như những cánh Hoa Đào đầu Xuân, ra đi mà không lời “TỪ BIỆT” với những người yêu thơ chị, những bằng hữu của chị. 

Thưa quý vị, TỪ MẪU – CÒN NGUYÊN NỖI NGẬM NGÙI – THÂM TÌNH – TỪ BIỆT cũng là tựa đề 4 tác phẩm Thơ của nhà thơ Lãm Thúy.

 

********************

Lãm Thúy đã buông tất cả nhọc nhằn của cuộc đời ô trọc này để ngao du bên những đồi Sim tím, một màu mà chị hầu như bị mê hoặc cả một đời.

Thay mặt Văn Nghệ Sĩ VNCH Hải Ngoại – CHÀO VĨNH BIỆT NHÀ THƠ LÃM THÚY.

 

nhất hùng kính điếu