
Khi một con người tài hoa như Trung tá – nhạc sĩ Thục Vũ nằm xuống giữa lòng thung lũng Sơn La, thứ mà thời cuộc để lại để định danh ông không phải là di sản âm nhạc đồ sộ, không phải là những năm tháng lĩnh xướng chương trình Thi Nhạc Giao Duyên lừng lẫy của Sài Gòn một thời, mà chỉ còn lại một sự tối giản đến tàn nhẫn: Vũ Văn Sâm, 1932. Không ngày mất. Không một dòng ghi về cuộc đời hay sự nghiệp. Đó là cách mà một thời đại đã thu nhỏ cả một đời người thành vài ký tự vô cảm trên một tấm bia gỗ mục.
Trong văn chương, nơi nào sự im lặng của lịch sử đậm đặc nhất thì nơi đó tiếng thét của thân phận con người lại vang dội nhất. Tấm bia gỗ mục nát ấy chính là một “tác phẩm” đau đớn mà hậu thế buộc phải đọc, để tự hỏi: người đàn ông mang tên Vũ Văn Sâm ấy đã là ai trước những dâu bể của năm 1975?
Phía trước cột mốc gãy đổ ấy, ông từng là một trung tá oai nghiêm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời là một người nghệ sĩ hào hoa đứng dưới ánh đèn đô thành, dệt nên những giai điệu giàu chất thơ cho đời. Người ta từng say đắm nét mộc mạc của “Duyên Em”, bản tình ca ông viết tặng người vợ thuở học trò; từng đồng cảm với “Tình Mùa Chinh Chiến”; và những người lính năm xưa cũng từng sải bước theo nhịp hùng tráng của Quang Trung hành khúc. Vậy mà sau lốc xoáy của thời cuộc, tất cả hào quang và âm điệu ấy bỗng lùi sâu vào bóng tối.
Những người từng cùng chịu cảnh lao tù đã lưu giữ lại những mảnh ký ức cuối cùng về ông. Sau tháng Tư năm 1975, Thục Vũ bị đưa vào trại cải tạo Suối Máu (Biên Hòa). Chính tại không gian quây kín bởi những hàng kẽm gai ấy, trái tim của người nghệ sĩ đã kết tinh thành nhạc phẩm “Suối Máu”, còn được nhiều người biết đến với tên gọi “Anh Ở Đây”.
Khi bị chuyển ra vùng rừng núi Sơn La, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm kể lại rằng bệnh gan khiến Thục Vũ ngày một suy kiệt, đôi mắt vàng dần theo năm tháng. Giữa núi rừng heo hút, trong điều kiện thiếu thốn đủ bề, theo lời kể của những người cùng cảnh ngộ, ông vẫn cố lưu giữ những giai điệu cuối đời trên những mảnh giấy nhặt được, như thể âm nhạc là điều cuối cùng không ai có thể tước khỏi ông.
Bài hát viết từ trại Suối Máu, khi được cất lên bằng những giọng hát khàn đục vì đói rét và bệnh tật trong đêm tối của trại giam Sơn La, đã lan truyền như một lời an ủi giữa những con người cùng chung số phận:
“Em ở Sài Gòn anh ở đây
Đồi pha cát trắng kẽm gai đầy
Ngẩn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược
Để nhớ nhung về che khuất mây
Tôi vẫn thường đêm thương nhớ con
Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn
Thương mình ray rứt từng đêm trắng
Thương bạn anh trong chuyện mất còn
Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây
Áo rách xác xơ thân gầy
Cùng chung nếp sống lưu đày
Anh ở đây ngày ngày cơm chưa đầy chén
Chiều buồn ra xem bầy én
Kiếm mồi thấp thoáng bay quanh…”
Đó không phải là tiếng hô của một hệ tư tưởng, mà là tiếng nói rất con người của nỗi nhớ, của phẩm giá và của sự chịu đựng. Giữa tận cùng nghiệt ngã, người nghệ sĩ ấy không chọn nuôi dưỡng hận thù. Ông chọn hoài niệm. Ông không cầm lấy vũ khí, mà cầm lấy giai điệu để tự chữa lành chính mình và nâng đỡ những tâm hồn khốn khó chung quanh.
Rồi cái chết cũng đến với Thục Vũ vào khoảng những năm 1976–1977, lặng lẽ như một chiếc lá rơi giữa sương núi Tây Bắc, để lại phía sau một nấm mồ khuất lấp giữa cỏ cây và một tấm bia gỗ đơn sơ gần như không còn tiếng nói.
Hậu thế tìm về Thục Vũ hôm nay không phải bằng lăng kính của người thắng hay kẻ thua, mà bằng tâm thế của những người đi nhặt nhạnh những di vật của ký ức và văn hóa. Bản nhạc viết trong lao tù của ông, cũng như tấm bia gỗ đơn sơ ấy, nhắc chúng ta rằng nghệ thuật có thể bị tước đoạt, nhưng không thể bị đồng hóa hay xóa bỏ.
Những nhà văn, nhà thơ – những người mang trong tim ký ức của một thời đại – có lẽ hiểu rõ hơn ai hết cái giá của sự im lặng ấy. Thớ gỗ mục nơi Sơn La có thể đã tan vào lòng đất. Nấm mồ xưa có thể đã đổi thay theo năm tháng, nhưng cái tên Thục Vũ cùng những giai điệu viễn xứ của ông đã kịp hóa thành ký ức của nhiều thế hệ.
Rồi sẽ đến một ngày, khi bụi thời gian phủ mờ mọi khẩu hiệu và mọi thắng thua, điều còn đứng lại trước đất trời không phải là quyền lực, mà là cái đẹp, là tình người và những giai điệu đã chiếu sáng vào lãng quên. Chính những điều ấy mới có đời sống bất tử, vượt lên trên mọi nỗ lực xóa nhòa của thời gian.
TÂM AN
